Hiệp Hội Người Việt San Diego
Vietnamese Federation Of San Diego
Tiếng Nói Của Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản Tại San Diego

7833 Linda Vista Road, San Diego, California 92111

QUỐC TỔ HÙNG VƯƠNG

I. DẪN NHẬP 

Việt Nam là một trong những quốc gia được thành lập sớm nhất trong nhân loại. Lịch sử loài người chính thức được ghi nhận vào năm 4241 B.C. (trước Thiên Chúa giáng sinh) (1). Vị vua đầu tiên của nước ta là Kinh Dương Vương lên ngôi năm 2879 B.C., 14 thế kỷ sau khi lịch sử bắt đầu. Lúc đó nhân loại đã tiến bộ nhiều. Các nền văn minh lớn đã được phát triển: Người Ai Cập đã làm ra lịch và nhạc khí, đã chế được hợp kim đồng, vàng, và bạc…Các thành phố vùng Mesopotamia đã được tổ chức (1) trước thời Kinh Dương Vương hàng 2000 năm. Văn minh Trung Hoa cũng đã phát huy rực rỡ trước và đồng thời với đời Hồng Bàng. Vì vậy, nói rằng Việt Nam đã lập quốc từ gần 5000 năm nay, không phải là nói chuyện hoang đường thời tiền sử.

Nguồn gốc của dân Việt như thế nào? Có giả thuyết cho rằng người Việt trước đây thuộc giống Tam Miêu bên Tàu, sau bị người Hán đánh đuổi, phải lui về địa phận Bắc Việt và bắc Trung Việt để sinh sống (2). Lại có thuyết cho rằng dân ta có nguồn gốc Mã Lai. Ta có thể tạm tin rằng, trước thời Hồng Bàng, tổ tiên ta đã sống ở vùng châu thổ sông Hồng Hà và sông Mã (Thanh hóa). Tới thời Hùng Quốc Vương, xã hội Việt tộc được tổ chức qui mô, trở thành nước Văn Lang. Trong 1000 năm Bắc thuộc, chắc chắn có những cuộc di dân của người Hán tràn xuống phía nam. Sau này, trong cuộc Nam Tiến, Việt tộc cũng pha trộn thêm các sắc dân Chàm và Cao Mên, tạo ra nòi giống Việt ngày nay. Tuy dân ta có bị ảnh hưởng Hán tộc và các sắc dân hải đảo nhưng vẫn không bị đồng hóa, vẫn giữ được Việt tính tương đối đồng nhất về văn hóa, ngôn ngữ, phong tục…

Các chuyện xảy ra trong đời Hùng Vương không phải chỉ là huyền thoại. Trái lại, có nhiều bằng cớ xác đáng xác nhận những chuyện đó rất đáng tin. Đặc biệt dân Việt không nhất thiết thờ Vật Tổ (totem) như nhiều dân tộc khác. Huyền sử nguồn gốc TIÊN RỒNG về Quốc tổ Hùng Vương mang nhiều ý nghĩa triết lý của một dân tộc đã có một nền văn minh xán lạn tự ngàn xưa. 

II. HUYỀN SỬ VỀ QUỐC TỔ HÙNG VƯƠNG 

Sử chép: Vua Trung Hoa là Đế Minh đi tuần thú phương nam, tới miền núi Ngũ Lĩnh lấy con gái Vụ Tiên, sinh ra Lộc Tục. Đế Minh cho con là Đế Nghi làm vua phương bắc, và cho Lộc Tục làm vua phương nam, lấy hiệu là Kinh Dương Vương, đặt tên nước là Xích Quỷ (2878 B.C.). Nước Xích Quỷ rất lớn, chiếm gần một nửa nước Tàu ngày nay ở phía nam sông Dương Tử (Bản đồ 1). Kinh Dương Vương lấy con gái Động Đình Quân là Long Nữ, sinh ra Sùng Lãm nối ngôi làm vua, tức là Lạc Long Quân (Hùng Hiền Vương). Lạc Long Quân lấy Âu Cơ, con gái Đế Lai, cháu gái Đế Nghi sinh ra một bọc trăm trứng, nở thành 100 người con trai (2,3) (xin xem danh sách 100 quan lang trong Bảng 1). Hai vị vua khai sáng của nước ta là giòng dõi của Vụ Tiên và Long nữ nên dân tộc Việt vẫn tự coi là giòng dõi Tiên Rồng. Về sau, Lạc Long Quân mang 50 con xuống biển, Âu Cơ mang 49 con lên núi, để con trưởng là Hùng Lân ở lại Phong Châu (Vĩnh Yên, Bắc Việt) làm vua, lấy hiệu là Hùng Quốc Vương, đặt tên nước là Văn Lang (Bản Đồ 2). Họ Hồng Bàng truyền được 18 đời, mỗi đời có nhiều vị vua mang cùng một vương hiệu (4) (Bảng 2). Đến năm 258 B.C. nước Văn Lang bị Thục An Dương Vương xâm chiếm, lập ra nước Âu Lạc (Bản Đồ 3).

Theo huyền sử, họ Hồng Bàng truyền qua 18 chi, trung bình mỗi chi có 4 đời vua (4) và đã giữ nước được 2622 năm. Chúng ta nhận thấy hai vị vua đầu tiên là Kinh Dương Vương (I) và Lạc Long Quân (II) trị vì nước Xích Quỷ rất lớn, còn từ HùngVương III thì lại trị vì nước nhỏ Văn Lang ở địa phận nước ta (địa phận nước Văn Lang rộng lớn như nước Xích Quỷ theo truyền thuyết đều bị phần lớn các sử gia bác bỏ). Sau khi thay đổi quốc hiệu, thì vương hiệu là Hùng Vương không thay đổi nữa. Vì vậy ta có thể suy đoán rằng giữa đời Lạc Long Quân (II) và Hùng Quốc Vương (III) phải có những biến cố rất lớn trong một khoảng thời gian dài 268 năm mà tên tuổi các vua trong thời kỳ này không được ghi lại. Có lẽ nước ta lúc bấy giờ có 18 thị tộc thay nhau làm vua. Khi bắt đầu nắm quyền lãnh đạo, mỗi thị tộc lại khai sáng ra một niên hiệu Hùng Vương mới. Dù còn nhiều nghi vấn về triều đại Hùng Vương, chúng ta cũng đã biết chắc chắn rằng hơn 4000 năm trước các vị vua Hùng đã sáng lập ra một nước Việt độc lập, văn minh và thái bình trong suốt 26 thế kỷ.  

III. NƯỚC VĂN LANG 

Sau thời huyền sử của Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân, các vị vua Hùng kể từ chi thứ ba là Hùng Quốc Vương đã trị vì nước Văn Lang. Vậy nước Văn Lang là nước như thế nào?

Về địa lý, Văn Lang có khoảng 1 triệu dân, gồm miền châu thổ sông Hồng (Bắc Việt), châu thổ sông Mã, sông Chu (Thanh Hóa), trải dài xuống phía nam, khoảng vùng Quảng Bình.

Về chính trị, Văn Lang chia làm 15 bộ. Việc phân quyền đã rất rõ rệt: Trên hết là Hùng Vương, kế đên là Lạc Hầu coi viêc văn, Lạc Tướng coi việc võ, quan nhỏ gọi là Bồ Chính. Kinh đô đặt tại Phong Châu, thuộc địa hạt Vĩnh Yên ngày nay.

Về sinh hoạt, dân chúng thạo nghề chài lưới (có tục vẽ mình), nông nghiệp mở mang (truyện bánh dày, bánh chưng, truyện An Tiêm trồng trại dưa đỏ…), thạo nghề luyện kim (truyện Phù Đổng Thiên Vương, việc chế tạo trống đồng đẹp và tinh xảo nhất vùng Đông Nam Á). Thương mại cũng phát triển, có cả người ngoại quốc tới buôn bán (truyện Chử Đồng Tử).

Về quốc phòng, ta ít nghe chuyện giặc giã và chiến tranh với ngoại bang, trừ giặc Ân (chi Hùng Vương thứ 6). Vua Hùng đã mở trường huấn luyện quân sĩ đặt tên là Cẩm Đội.

Về phong tục, gia đình đã là nền tảng của xã hội (truyện trầu cau) với nhiều phong tục thuần nhã, đề cao chữ hiếu nhưng cũng có sự tự do trong hôn nhân (truyện Tiên Dong, truyện trầu cau). Nếp sống êm đẹp này đã có trước khi ta chịu ảnh hưởng của người Trung Hoa dưới thời Bắc thuộc. 

IV. Ý NGHĨA VÀI TRUYỆN CỔ TÍCH ĐỜI HÙNG VƯƠNG 

Phần lớn các truyện cổ tích đều ở thời đại các vua Hùng, phản ảnh một xã hội thái hòa và hùng mạnh: 

Truyện Phù Đổng Thiên Vương 

Đời vua Hùng Vương thứ 6, giặc Ân sang xâm chiếm nước ta. Vua xuống chiếu cầu hiền. Ở làng Phù Đổng có đứa bé mới 3 tuổi xin vua đúc cho mình một con ngựa sắt và một thanh kiếm sắt. Đứa bé vươn mình thành một người khổng lồ, cưỡi ngựa sắt phun lửa, cầm gươm ra trận, đánh tan giặc Ân. Sau ngài tới núi Ninh Sóc rồi bay lên trời. Vua phong làm Phù Đổng Thiên Vương (tức Thánh Gióng).

Truyện này cho ta thấy dưới thời Hùng Vương, kỹ thuật rèn binh khí bằng sắt đã tinh vi, song song với kỹ thuật đồ đồng tạo ra những trống đồng tinh xảo (hình 1), hiện nay còn lưu truyền. Tuy các vua Hùng hiếu hòa, không gây hấn xâm chiếm các nước khác để bành trướng lãnh thổ, nhưng cũng có quân đội hùng mạnh bảo vệ quốc gia.  

Truyện Trầu Cau

Ngày xưa có hai anh em sinh đôi là Cao Tân và Cao Lang, giống nhau, không ai phân biệt được. Cô con gái thày học của hai người mới bưng ra hai bát cháo và một đôi đũa để mời. Cô để ý ai ăn trước là anh, rồi xin cha mẹ lấy người ấy. Người em buồn rầu, bỏ đi, rồi chết hóa ra cây cau. Người anh đi tìm em, biết chuyện cũng buồn rầu ngồi tựa gốc cây cau mà chết, hóa thành hòn đá vôi. Người vợ đi tìm chồng, khi biết chuyện cũng buồn mà chết cạnh hòn đá, hoá thành cây trầu, quấn quýt lấy hòn đá và cây cau. Vua Hùng nếm thử lá trầu, miếng cau và vôi, thấy rất thơm miệng, và nước trầu đỏ ối rất đẹp. Cảm vì truyện đầy tình nghĩa, vua Hùng ra lệnh dùng trầu cau trong việc cưới hỏi. Tục lệ nay đến nay vẫn còn tuy ngày nay rất ít người ăn trầu.

Truyện này mô tả tình tiết éo le của một mối tình không may nhưng tràn đầy tình gia tộc và cho thấy dưới thời Hùng Vương, gia đình đã là một thực thể rõ rệt, không phải chờ đến thế kỷ thứ nhất mới được Thái Thú Nhâm Diên người Tầu dạy dỗ việc cưới hỏi cho dân ta!(2). Truyện cũng chứng tỏ quyền tự do của nữ giới trong việc chọn người bạn đời. 

Truyện Chử Đồng Tử 

Chử Đồng Tử là một người con rất có hiếu nhưng cũng rất nghèo, hai cha con chỉ có một cái khố! Khi bố chết, Chử Đồng Tử quàng cái khố độc nhất cho cha mang đi chôn, rồi đành phải sống trần truồng. Một hôm con gái vua Hùng Vương thứ 18 là Tiên Dong Mỵ Nương đi thuyền chơi, đến bãi làng Chử Xá, quây màn trên bãi cát để tắm. Chử Đồng Tử sợ quá lấy cát phủ lên mình, không ngờ nước tắm làm trôi cát, lộ thân hình Chử Đồng Tử. Tiên Dong cho là duyên trời, bèn cùng chàng kết nghia vợ chồng. Vì sợ vua cha, Tiên Dong không dám trở về kinh đô, bèn cùng chồng lập ra phố xá buôn bán rất thịnh vượng.

Một hôm Chử Đồng Tử đi buôn ngoài bể, học được đạo, trở về dạy lại cho Tiên Dong. Hai người có một cây gậy thần và một chiếc nón thần, đi đến đâu, cắm gậy trên mặt đất rồi che chiếc nón thì bỗng hiện ra dinh thự, kho tàng, dân cư, binh lính tấp nập. Vua cha thấy thế cho là Tiên Dong tạo phản, mang quân đến dẹp. Tiên Dong không chống cự. Một đêm, vợ chồng Sử Đồng Tử hóa phép đưa cả khu vực của mình bay lên trời.

Truyện này cho thấy, đôi trai gái tuy cùng là con hiếu thảo nhưng tình yêu giữa hai người đã vượt được giai cấp, đưa đến tự do hôn nhân, tự lực cánh sinh, phát triển thương mại và có lợi ích thực tế so với “nón thần, gậy thần” chẳng khác.

Đọc những truyện vừa kể và những truyện khác xẩy ra dưới thời Hùng Vương như truyện Trương Chi-Mỵ Nương, sự tích bánh dầy, bánh chưng, truyện Sơn Tinh-Thủy Tinh, truyện Quả Dưa Đỏ…truyện nào cũng bao hàm một ý nghĩa sâu sắc, diễn tả một lối sinh hoạt đầy tình người dưới đời Hồng Bàng. 

V. HỘI ĐỀN HÙNG 

Đền thờ Quốc Tổ Hùng Vương xây trên núi Nghĩa Lĩnh, thôn Cổ Tích, làng Hy Cương, phủ Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, Bắc Việt. Đặc biệt người xây đền thờ là An Dương Vương cũng là người thay thế họ Hồng Bàng làm vua nước ta.

Sử sách nói rõ ngày 12 tháng 3 âm lịch là ngày lễ giỗ Quốc tổ Kinh Dương Vương. Tới năm 1922, sau khi trùng tu đền Hùng, vua Khải Định đã chọn ngày 10-3 là ngày Lễ Quốc Tổ Hùng Vương. Hội Đền Hùng thường kéo dài từ ngày 9 đến ngày 11 tháng 3 âm lịch. (3) 

VI. KẾT LUẬN 

Trải qua gần 5000 năm, dân Việt vẫn trường tồn. Từ một nước nhỏ, Việt Nam đã trở thành một nườc lớn, tuy dân số đông đảo nhưng vẫn giữ được đặc tính riêng biệt và đồng nhất của dân Việt. Sở dĩ ta không bị đồng hoá với Trung Hoa vì tổ tiên ta đã hết sức chống lại sự đồng hoá ấy dưới mọi hình thức, hoặc tích cực như kháng chiến chống ngoại xâm dành quyền tự chủ, hoặc tiêu cực như âm thầm giữ gìn gia sản tinh thần trong thời ngoại thuộc. Tổ tiên ta đã rất thành công trong việc đồng hóa các giá trị nhân bản, những kỹ thuật tân kỳ du nhập từ những nền văn minh khác để làm giàu cho văn hoá nước mình, điển hình là Nho giáo, Lão giáo từ Trung Hoa, Phật giáo từ Ấn Độ, và Thiên Chúa giáo từ Âu châu.

Biến cố 1975 đã đưa hàng triệu người Việt ra khỏi quê cha đất tổ. Con dân Việt sống ở hải ngoại không thể không nghĩ cách lợi dụng cơ hội này để bảo tồn và phát triển văn hóa nước nhà. Trách nhiệm này ngày nay mong các anh chị em trẻ tuổi ở hải ngoại tiếp tay gánh vác.

Tin tưởng tuyệt đối vào sự trường tồn của dân tộc Việt, và để tỏ lòng tri ân Quốc Tổ Hùng Vương, Hiệp Hội Người Việt San Diego xin trân trọng gửi đến quý vị tập tài liệu này. 

*Bản khảo cứu tóm lược này do Ban Văn Hóa của Hiệp Hội Người Việt San Diego thực hiện nhân ngày Giỗ Tổ Hùng Vương năm Giáp Thân (2004), với sự đóng góp của các ông Phạm văn Đàm, Lê Phục Thủy, Nguyễn Anh Giao, Trương Toàn, Nguyễn Tấn Thọ, Bùi Quang Tiến. 

Hiệp Hội Người Việt San Diego

 

Tham Khảo:

  1. Bernard Grun. The timetables of history. Simon & Schuster. New York, 1982.
  2. Trần trọng Kim. Việt Nam sử lược. Sống Mới. Hoa Kỳ, 1978.
  3. Vũ Kim Biên. Giới Thiệu Đền Hùng. Sở Văn Hóa-Thông Tin-Thể Thao Vĩnh Phúc, 1993.
  4. Ngọc Phả Hùng Vương: Ký hiệu HT-AE9; Vụ Bảo Tồn Bảo Tàng – Bộ Văn Hóa Việt Nam
  1. Ngoài ra, các dữ kiện về huyền sử đời Hùng Vương dựng nước đã dựa vào tài liệu của các sách sau đây:
  2. Ngô Sĩ Liên. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư. NXB Khoa Học Xã hội. Hà Nội 1993.
  3. Quốc Sử Quán Triều Nguyễn. Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục. NXB Giáo Dục.Hà Nội 1998.
  4. Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu. Quốc sử huấn mông. Tản Đà toàn tập. NXB Văn Học. Tập V. Hà Nội 2002.