Hiệp Hội Người Việt San Diego
Vietnamese Federation Of San Diego
Tiếng Nói Của Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản Tại San Diego

7833 Linda Vista Road, San Diego, California 92111

CỘNG ĐỒNG VIỆT NAM TẠI HOA KỲ:

31 NĂM SAU  (1975-2006)

Lê Phục Thủy

Ba Đợt Sóng Tỵ Nạn và Di Dân

Trong 31 năm qua, Cộng Đồng Người Việt tại Hoa Kỳ đã có những cố gắng đáng kể để sống còn và thích nghi với đời sống mới tại Mỹ.  Một số khá lớn đã đạt được nhiều thành quả tốt đẹp đáng ca ngợi. Ngoại trừ một số rất nhỏ là du học sinh đến học tại Mỹ trước biến cố 4-1975, người Việt Nam tới Hoa Kỳ qua ba đợt chính.  Đợt thứ nhất, khoảng gần 150,000 người là những người Việt sinh sống tại miền nam Việt Nam phải bỏ nươc ra đi tỵ nạn cộng sản khi Saigon thất thủ vào ngày 30-4-1975.  Đợt thứ hai gồm những thuyền nhân, khoảng 500,000 người, là những người liều mình vượt biển đi tìm tự do trên  những con thuyền nhỏ, vượt biển Đông tới Nam Dương, Thái Lan, Mã Lai Á, Hồng Kông và Phi Luật Tân…  Một số nhỏ dùng đường bộ đi qua Cam Bốt để tới Thái Lan.  Người ta dự đoán có chừng 500,000 người đã bỏ mình trên biển cả vì bị chết đuối, chết đói, chết khát hay bị hải tặc tra tấn, hãm hiếp và sát hại.  Đây là một thảm kịch rùng rợn, thê thảm chưa từng xẩy ra cho dân ta từ thời lập quốc 5000 năm trước đây.  Phần lớn những thuyền nhân tới Mỹ từ năm 1976 tới năm 1982.  Đợt thứ ba tới Hoa Kỳ trong thập niên 80 và 90 theo Chương Trình Ra Đi Có Trật Tự (ODP, Orderly Departure Program) và Chương Trình H.O.  Di dân trong đợt ba này gồm thân nhân của người Việt tỵ nạn trong những đợt trước và các cựu tù nhân chính trị.  Ngày nay, trong số người Việt Nam tại Hoa kỳ còn có một số nhỏ các du học sinh và viên chức chính quyền sang Hoa kỳ hoc và tu nghiệp.  Số này sẽ càng ngày càng gia tăng, nhưng hiện giờ chưa có sinh hoạt đáng kể, và chưa có thống kê rõ ràng.

Người Việt thường sống tập trung tại các tiểu bang ấm áp và có nhiều công ăn việc làm.  Theo báo The Bridge (1998), hiện nay tổng số người Việt tại Hoa kỳ là 955,264 người.  Các tiểu bang có đông người Việt được liệt kê như sau:

California                                            600,000          

Texas                                                   85,000         

Florida, Massachusetts, Illinois          35,000

Virginia                                               30,000          

Washington                                          21,000   

Minnesota                                            20,000    

 


Ba Thời Kỳ Phát Triển

1.  Thời Kỳ Sống Còn (1975-1980):    Đời sống của một người dân tỵ nạn.

Phần lớn người tỵ nạn năm 1975 phải rời bỏ đất nước một cách vội vã, bỏ lại gia sản và tiền bạc dành dụm suốt đời, có khi còn gặp cảnh gia đình ly tán.  Tuy nhiên rất ít người bị chết trong đợt di tản này nhờ sự trợ giúp quy mô của người Hoa kỳ và các nước khác. Hầu hết cảm thấy bơ vơ, cay đắng, sợ hãi và chán nản.  Tình trạng kinh tế rất yếu kém.  Một số rất đông phải sống thiếu thốn, tuy không bị đói khát, vì không kiếm được việc làm hoặc chỉ kiếm được việc không hợp với khả năng.  Vì không nói thông thạo Anh ngữ, nhiều người  bắt buộc phải làm những công việc lao động với đồng lương tối thiểu.  Một số khá lớn phải sống nhờ vào các chương trình cứu trợ an sinh xã hội (welfare), học bổng, chương trình huấn nghệ dành riêng cho dân tỵ nạn v...v…  Quen sống trong một xã hội khép kín, sinh hoạt kín đáo và chặt chẽ trong tình tương thân tương trợ của gia đình, dân tỵ nạn cảm thấy áy náy vì phải sống nhờ vào sự trợ giúp của chính quyền.  Dân ta thường xem đó là lối sống tệ nhất, mặc dù từ thế kỷ thứ 15, Luật Hồng Đức ban hành dưới thời vua Lê Thánh Tông đã ấn định rõ quy chế an sinh xã hội, trước Hoa Kỳ rất lâu!

Tai hại nhất đối với người tỵ nạn là sự xung đột văn hóa, phản ảnh rõ rệt nhất trong việc thay đổi bậc thang giá trị.  Việc này đe dọa phá hủy truyền thống và nền móng gia đình của rất nhiều người Việt.  Thật tình tôi không muốn so sánh và đánh giá bậc thang giá trị của người Hoa Kỳ theo đó quyền cá nhân được triệt để bảo vệ và truyền thống của dân Việt vốn tôn trọng bổn phận đối với gia đình và xã hội.  Mỗi hệ thống giá trị đều có ưu điểm và khuyết điểm.  Có điều chắc chắn là sự xung đột văn hóa là có thật và đã mang lại nhiều đau thương cho nhiều gia đình.   Tuổi trẻ, nếu không bị lôi cuốn ào ạt vào nếp sống phóng túng, bề ngoài có vẻ cuồng loạn của người Mỹ,  thì cũng rất hoang mang, không biết sống như thế nào cho phải.  Vì nếp sống đã thay đổi đến tận gốc rễ, người dân tỵ nạn cũng phải thay đổi nhu cầu và mục tiêu cá nhân của họ.  Họ hiểu rằng ở Hoa Kỳ, cạnh tranh là lực đẩy của xã hội, đồng thời cũng là sức tàn phá hạnh phúc của con người nếu ta không biết tự chế  và áp dụng tinh thần cạnh tranh một cách khôn ngoan.  Phần lớn dân tỵ nạn thời này đều chấp nhận hy sinh cho con cái học hành, theo đúng truyền thống tôn trọng học vấn của dân ta tự ngàn xưa.  Vì bỡ ngỡ trước xã hội mới, không hiểu nhu cầu của xã hội này, nên họ thường thúc dục con cái theo học các ngành vốn được tôn trọng ở  nước nhà là Y, Nha, Dược và kỹ sư. Chính vì thế, một giai cấp mới gồm bác sĩ, kỹ sư  trong thập niên 80 và 90  đã góp phần tích cực đưa cộng đồng ta tiến mạnh so với các sắc dân thiểu số khác như da đen, da đỏ hay dân Mễ.

Trong thời kỳ này, sinh hoạt cộng đồng thu nhỏ trong phạm vi các hội đoàn văn hóa nhỏ, các hội tương trợ, và các đoàn thể tôn giáo, các tổ chức truyền thống như Tết Nguyên Đán và các sinh hoạt chính trị phục quốc.  Sự liên lạc giữa cộng đồng người Việt và các cộng đồng thiểu số khác cũng như dân chúng Hoa kỳ cũng rất giới hạn.

2.  Thời Kỳ Phát Triển (1981-1990):  Đời sống của một di dân.

Sau năm năm tại Hoa Kỳ, tuổi trẻ bắt đầu tiếp tay lớp già làm chủ lực cho cộng đồng.  Tình trạng kinh tế càng ngày tươi sáng hơn, song song với sự tan rã của nếp sống kín đáo của “đại gia đình”.  Lớp trẻ tốt nghiệp  Đại học hoặc các trường chuyên nghiệp đã có lợi tức cao hơn để giúp gia đình ít bị lệ thuộc vào sự trợ giúp của chính quyền.  Dân tỵ nạn đã có một cuộc sống dễ thở hơn về cả tinh thần lẫn vật chất.  Chế độ “góp lương” trong những gia đình người Việt rất hữu hiệu.  Theo cách này, cha mẹ, anh chị em đi làm đều sống chung, góp lương để trang trải chi phí chung, do đó tiết kiệm được rất nhiều và cũng không hạn chế tự do của phái trẻ. Đặc biệt, trong giai đoạn này, Target Assistance Program rất thành công trong việc tái huấn luyện chuyên viên người Việt đã từng hành nghề tại Việt Nam, đã giúp họ trở lại nghề cũ và có việc làm tương xứng với khả năng như các bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ, kỹ sư v…v…  Tuy vậy, các hoạt động kinh tế trong lúc này vẫn thường giới hạn “người Việt phục vụ người Việt”, qua những dịch vụ y tế, chợ, quán ăn….

Người di dân Việt nam bắt đầu được hưởng sự sung túc của dân Hoa kỳ, nhờ vào sự làm việc cần cù, nhẫn nhịn và sự thành công đáng kể trong học đường.  Họ có thể bắt đầu thích nghi với nền văn hóa Mỹ mà không gặp nhiều trở ngại và cay đắng như mấy năm trước.  Thế hệ di dân thứ hai đã có thể hưởng rất nhiều tự do một cách xứng đáng của giới trung lưu.  Mặt khác, các người di dân thuộc lớp già cố gắng hết sức để duy trì nền văn hóa cổ truyền.  Việc này cũng được sự hỗ trợ của lớp người trẻ.  Dạy trẻ em tiếng Việt là ưu tiên hàng đầu, được tích cực thực hiện ở mọi địa phương.  Các sinh hoạt văn hóa Việt cũng phát triển mạnh mẽ: giới truyền thông, đặc biệt là báo chí, tạp chí, sách mới hoặc tái bản, văn thơ, âm nhạc với lời Việt đều được cộng đồng ủng hộ.  Riêng hội họa, điêu khắc, kiến trúc và kịch nghệ vẫn chưa phát triển đúng mức trong giai đoạn này.

Sinh hoạt cộng đồng bắt đầu thể hiện qua những hội đoàn và hiệp hội lớn, có phạm vi hoạt động toàn tỉnh, tiểu bang và liên bang.  Vài trăm hội đoàn đã xuất hiện trong cộng đồng.  Sinh hoạt nổi bật nhất là một số sinh hoạt chính trị phục quốc vào cuối thập niên 80 và nỗ lực cứu trợ thuyền nhân và dân tỵ nạn tại các trại tỵ nạn ở Á châu.  Hiệp Hội Người Việt San Diego là một trong những hội đoàn lớn đầu tiên được thành lập tại Hoa kỳ, khởi từ 1984 với 28 hội đoàn đoàn viên.  Các tổ chức kháng chiến phục quốc của các ông Hoàng Cơ Minh và Võ Đại Tôn hoạt động rất mạnh trong giai đoạn này.  Uy Ban Báo Nguy Giúp Người Vượt Biển, phát xuất tại San Diego đã được sự hưởng ứng nồng nhiệt của đồng bào trên thế giới và đã tích cực đóng góp nhân lực và tài lực với các hội đoàn Pháp và Đức  trong công tác đưa tàu ra khơi vớt được hơn 3000 thuyền nhân chơi vơi giữa biển Đông.  Cộng đồng di dân Việt nam đã giữ được mối giao hảo tốt đẹp với các sắc dân khác và với dân chúng cũng như chính quyền Hoa kỳ.  Cho tới nay, không có một sự xung đột lớn nào xảy ra giữa cộng đồng ta và các sắc dân khác.

3.  Thời kỳ liên tục phát triển (1992-ngày nay):  Đời sống của người Mỹ gốc Việt.

Sau hơn một phần tư thế kỷ sinh sống ở Hoa Kỳ, phần lớn dân Việt đã thuộc giới trung lưu (middle class).  Một số nhỏ đã thành công lớn và nhập vào giới trung lưu cao cấp (upper middle class).  Tuy nhiên, các hoạt động kinh tế vẫn thường giới hạn trong cộng đồng người Việt, ngoại trừ một số cơ xưởng kỹ nghệ, cơ sở thương mại lớn do người Việt điều hành.  Người Việt di dân phần lớn đã nhập quốc tịch Hoa Kỳ và trở thành người Mỹ gốc Việt.  Họ an hưởng cuộc sống sung túc, tự do của Hoa kỳ và cũng bắt đầu gánh chịu những tệ đoan của xã hội Hoa Kỳ.  Các tệ đoan của một xã hội phát triển quá độ đã xuất hiện trong cộng đồng người Việt:  nạn xì ke ma túy, băng đảng, bỏ học, bơ vơ lạc lõng…  Số người Việt phạm trọng tội tuy còn thấp  nhưng cũng gia tăng nhanh chóng.

Sự xung đột văn hóa cũng đã bớt nhiều.  Lớp già và trung niên đã tìm hiểu, thích nghi rất nhanh và chịu đựng rất giỏi.  Thành công của chính họ và của con cái trong một thời gian tương đối ngắn xóa đi rất nhiều mặc cảm và cay đắng của những ngày đầu.  Lớp trẻ ít bị trở ngại về Anh ngữ.  Họ dần dần làm việc và suy nghĩ như người Mỹ.  Tuy vậy, giới trẻ thuộc thế hệ di dân thứ hai vẫn còn hai vấn đề khó khăn lớn:  Thứ nhất, giới trẻ có cảm giác không biết mình là ai, người Việt hay người Mỹ, một hiện tượng rất phổ biến của tất cả giới di dân, gọi là cảm giác mất bản sắc hay mất gốc (loss of identity).  Thứ hai, thực sự phần đông giới trẻ vẫn chưa xâm nhập được xã hội Hoa kỳ một cách trọn vẹn, để có thể sống trọn vẹn như người Hoa Kỳ hay các di dân gốc Âu châu.  Tuy họ được pháp luật bảo vệ, tránh được kỳ thị trong nhiều trường hợp, nhưng không thể tránh được sự kỳ thị trong cách hành sử và trong tư tưởng của dân Mỹ trắng.  Xét cho cùng kỳ thị cũng là một phản ứng tự nhiên của nhân loại! Họ có rất nhiều cơ hội trở thành chuyên viên cao cấp, nhưng chỉ một số rất ít người Việt trẻ tuổi nắm giữ những chức vụ chỉ huy có ảnh hưởng lớn đến chính sách.  Gần đây, một số đã được bầu vào các cơ quan dân cử của chính quyền Hoa kỳ, nêu cao uy tín và danh dự của cộng đồng người Việt. Là một thành viên của một cộng đồng thiểu số (dưới 0.5% dân số), dĩ nhiên họ phải cảm thấy sự kỳ thị đó.  Khác với cha, anh là những người từng có sự nghiệp, có sẵn căn bản văn hóa Đông phương để hành sử đúng tư cách khi bị kỳ thị, lớp trẻ thường không có cơ hội tiếp xúc và tìm hiểu căn bản tinh thần của dân Việt và chưa đủ thời gian để tự tạo cho mình một căn bản, một triết lý sống dựa vào văn hóa Tây phương, hoặc tổng  hợp Đông Tây.  Đối với phần lớn lớp trẻ, cuộc sống đa văn hóa là một cuộc sống đương nhiên, tuy đầy thích thú và cũng lắm lúc hoang mang.

Về chính trị, cộng đồng đã thất vọng khi không có một sự thay đổi chính trị nào đáng kể tại Việt nam khi cộng sản Đông Âu sụp đổ và chính Nga sô cũng phải từ bỏ thể chế cộng sản. Hiện nay, hoạt động chống cộng chuyển từ hoạt động kháng chiến bằng quân sự sang chủ trương tố cáo chính quyền cộng sản vi phạm nhân quyền đòi thực thi dân chủ và tích cực ngăn chặn sự xâm nhập của cộng sản dưới mọi hình thức vào cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ. Các cựu tù nhân chính trị, lực lượng cựu quân nhân và một số trí thức là lực lượng nòng cốt trong chiến dịch này. Điển hình là việc thành lập Mạng Lưới Nhân Quyền có văn phòng điều hợp trung ương đặt tại San Diego, và đã quy tụ được nhiều thành viên trên toàn thế giới. Trở ngại chính trong việc giải cộng là việc chưa tìm được một đường lối đồng thuận cho các lực lượng chống cộng ở hải ngoại và và chưa có sự hợp tác cụ thể giữa các thế lực này và các thế lực chống cộng ở trong nước, kể cả các thế lực tôn giáo và thanh niên. Sự tham gia của các giới trẻ trong sinh hoạt chính trị tương đối hạn hẹp. Tình trạng tiến bộ nhỏ giọt về kinh tế ở quê nhà làm cho cuộc sống dễ thở hơn nhưng cũng đã làm chậm lại việc đòi hỏi dân chủ của người dân trong nứớc.  Gần đây, sự chống đối từ những công thần của chế độ cộng sản và những trí thức ở trong nước là một dấu hiệu rõ rệt về sự nứt rạn và suy sụp của chế độ độc tài hiện hữu.

Tại Hoa Kỳ, người Mỹ gốc Việt đã bắt đầu hiểu cấu trúc hạ tầng của xã hội Mỹ.  Với tư cách một công dân Hoa Kỳ, họ bắt đầu thực thi quyền bỏ phiếu và một số người Việt trẻ tuổi đã tham dự vào guồng máy chính quyền và công dân vụ.  Vì sự tham gia và hợp tác trong sinh hoạt chính trị và xã hội của người Hoa Kỳ nói chung, họ đã tạo được sự nể vì và có tiếng nói, tuy còn yếu, trong việc hoạch định chính sách xuyên qua lá phiếu.  Cũng vì vậy, mọi sự giao thiệp giữa cộng đồng ta và chính quyền các cấp càng ngày càng tốt đẹp.  Cộng đồng ta cũng đã duy trì tình giao hảo tốt đẹp với các cộng đồng thiểu số khác.

Kết luận     

Trong khi vẫn nỗ lực phát triển trong nếp sống cạnh tranh của xã hội Hoa Kỳ, cộng đồng Việt Nam còn phải trực diện với ba vấn đề chính:

1.  Đi tìm một định chế cho các tổ chức cộng đồng có khả năng gây được tinh thần phấn khởi của đồng hương, ngõ hầu huy động một cách hữu hiệu tiềm năng của cộng đồng khi hữu sự.  Tại San Diego, định chế của Hiệp Hội Người Việt San Diego đã được cải tiến không ngừng, điển hình là việc thiết lập thêm một Ủy Ban Giám Sát và thay đổi thành phần Đại Biểu độc lập trong Đại Biểu Đoàn năm 1996.

2.  Đi tìm một đường lối hữu hiệu, hợp pháp và hợp lý biểu dương sức mạnh và nguyện vọng của cộng đồng người Việt đối với chính quyền và nhân dân Hoa Kỳ.  Việc hành sử quyền bỏ phiếu và ứng cử vào các chức vụ dân cử đã được cổ võ và hưởng ứng trong vài năm gần đây. Luật sư Trần thái Văn là người Việt đầu tiên đắc cử dân biểu tiểu bang California.

3.  Nghiên cứu đường hướng về sự đóng góp của cộng đồng người Việt ở hải ngoại vào tiến trình giải thể cộng sản, dân chủ hóa và tân tiến hóa một nước Việt Nam hậu cộng sản.  Việc này đang được xúc tiến mạnh  mẽ trong giới trí thức và chuyên viên  qua những Đại hội của các hội kỹ thuật và khoa học gia đủ mọi ngành.  Một số chính trị gia cũng như trí thức cũng đang nỗ lực  làm việc âm thầm theo chiều hướng này.

            Cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ đang tiếp tục phát triển một cách tích cực.  Tôi tin chắc rằng cộng đồng chúng ta sẽ đóng góp nhiều cho nước Hoa kỳ bằng cách phong phú hóa nền văn minh đa văn hóa, vốn là nguồn sống của xã hội Mỹ.  Tôi cũng tuyệt đối tin tưởng rằng cộng đồng người Việt ở hải ngoại sẽ có cơ hội giữ một vai trò then chốt trong công cuộc cải tiến  Việt Nam thành một nước phú cường trong thế kỷ 21.

Lê Phục Thủy

 

 

@2006 Vietnamese Federation of San Diego. All rights reserved.